Những chính sách thuế, hải quan đáng chú ý với doanh nghiệp nông nghiệp từ tháng 8/2026

Quản lý thuế ngày càng số hóa, yêu cầu cung cấp thông tin cũng chặt chẽ hơn

Thông tư 89/2026/TT-BTC của Bộ Tài chính, có hiệu lực từ ngày 1/7/2026, quy định chi tiết nhiều nội dung về quản lý thuế, từ giao dịch điện tử, khai và nộp thuế đến hoàn, miễn, giảm và xử lý nghĩa vụ thuế. Trong tháng 8, Cục Thuế tiếp tục giới thiệu các điểm mới của Thông tư để triển khai thống nhất trong toàn ngành.

Một điểm đáng chú ý là phạm vi giao dịch điện tử trong quản lý thuế được mở rộng, trong đó có hoạt động kiểm tra thuế. Quy định cũng cụ thể hơn về tài khoản giao dịch điện tử và thời hạn cập nhật thay đổi thông tin đăng ký giao dịch thuế điện tử. Theo hướng dẫn của Cục Thuế, trường hợp phát sinh thay đổi, người nộp thuế phải cập nhật thông tin theo thời hạn quy định; đồng thời, khi hệ thống quản lý thuế đã có đủ dữ liệu, hệ thống có thể tự động tạo lập tờ khai để hỗ trợ người nộp thuế.

Song song với quá trình số hóa, yêu cầu tuân thủ trong cung cấp thông tin cũng được tăng cường. Nghị định 291/2026/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 21/7/2026, bổ sung Điều 19a vào Nghị định 125/2020/NĐ-CP về xử phạt hành chính đối với việc cung cấp thông tin phục vụ mục đích trao đổi thông tin về thuế theo pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế hoặc thỏa thuận quốc tế về thuế. Đây không phải quy định chung cho mọi yêu cầu cung cấp hồ sơ của cơ quan thuế.

Đối với tổ chức, khung phạt được quy định từ 10–30 triệu đồng khi cung cấp thông tin quá thời hạn từ 5 ngày trở lên; 30–50 triệu đồng nếu thông tin cung cấp không chính xác hoặc không đầy đủ; và 50–100 triệu đồng đối với trường hợp không cung cấp thông tin sau 15 ngày kể từ khi hết thời hạn hoặc thời hạn gia hạn, hoặc có hành vi thông đồng, bao che nhằm cản trở việc thu thập, xác minh thông tin. Một số trường hợp còn phải khắc phục bằng việc cung cấp lại đầy đủ, chính xác thông tin.

Với doanh nghiệp có hoạt động mua bán, hợp tác hoặc thanh toán xuyên biên giới, thay đổi này cho thấy hồ sơ thuế không nên chỉ được quản lý tại bộ phận kế toán. Hợp đồng, chứng từ thanh toán, hồ sơ nhập khẩu, thông tin đối tác và các tài liệu có liên quan cần được lưu trữ đồng bộ, có đầu mối chịu trách nhiệm và có cơ chế theo dõi thời hạn khi phát sinh yêu cầu từ cơ quan thuế. Đây là lưu ý quản trị, không phải một nghĩa vụ pháp lý mới ngoài các trường hợp luật quy định.

Doanh nghiệp doanh thu không quá 10 tỷ đồng cần lưu ý chính sách giảm 30% thuế TNDN

Một chính sách có tác động trực tiếp đến nhóm doanh nghiệp quy mô nhỏ được Quốc hội thông qua ngày 24/8/2026 tại Nghị quyết 43/2026/QH16.

Theo Nghị quyết, doanh nghiệp, tổ chức được thành lập theo pháp luật Việt Nam có doanh thu hằng năm của năm 2026, năm 2027 không quá 10 tỷ đồng được giảm 30% số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp của kỳ tính thuế tương ứng. Chính sách có hiệu lực từ ngày 24/8/2026 và áp dụng cho kỳ tính thuế năm 2026 và năm 2027.

Trường hợp doanh nghiệp đang được hưởng ưu đãi thuế TNDN theo quy định khác, số thuế được giảm 30% được xác định trên số thuế phải nộp sau khi đã trừ ưu đãi thuế. Nghị quyết cũng loại trừ trường hợp doanh nghiệp được hình thành do chia, tách sau ngày Nghị quyết có hiệu lực mà tổng doanh thu hằng năm của các doanh nghiệp sau chia, tách vượt 10 tỷ đồng.

Đối với ngành giống cây trồng, chính sách này có thể đáng chú ý với các doanh nghiệp, đơn vị kinh doanh hoặc doanh nghiệp trong chuỗi phân phối có doanh thu nằm trong ngưỡng quy định. Tuy nhiên, đây không phải chính sách giảm thuế cho mọi doanh nghiệp nông nghiệp hoặc mọi doanh nghiệp nhỏ và vừa. Việc áp dụng phải căn cứ doanh thu và các điều kiện cụ thể của từng doanh nghiệp; vì vậy không nên mặc nhiên đưa khoản giảm thuế vào kế hoạch tài chính khi chưa xác định đủ điều kiện.

Xuất nhập khẩu tại chỗ và hàng nhập khẩu: cần kiểm soát từ hợp đồng đến khâu bảo quản

Hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu tại chỗ tiếp tục là một trong những vấn đề được cơ quan hải quan hướng dẫn trong tháng 8.

Theo Điều 47a Luật Hải quan được bổ sung bởi Luật 90/2025/QH15, hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại chỗ là hàng hóa được giao, nhận tại Việt Nam theo chỉ định của thương nhân nước ngoài, trên cơ sở hợp đồng mua bán, gia công, thuê hoặc mượn giữa doanh nghiệp Việt Nam và thương nhân nước ngoài. Hàng hóa thuộc trường hợp này phải thực hiện thủ tục hải quan và chịu kiểm tra, giám sát hải quan.

Công văn 21078/CHQ-GSQL ngày 27/8/2026 của Cục Hải quan tiếp tục làm rõ cách xử lý thực tế. Với hàng nhập khẩu tại chỗ theo hợp đồng mua bán, doanh nghiệp mở tờ khai theo loại hình phù hợp với mục đích sử dụng; hướng dẫn nêu ví dụ mã A11 đối với nhập kinh doanh tiêu dùng hoặc A12 đối với nhập kinh doanh sản xuất. Đáng chú ý, hàng hóa nhập khẩu tại chỗ vẫn phải đáp ứng chính sách quản lý, kiểm tra chuyên ngành và chính sách thuế tương ứng như hàng nhập khẩu từ nước ngoài.

Điều này có ý nghĩa thực tế với doanh nghiệp giống cây trồng khi tham gia các giao dịch ba bên có yếu tố nước ngoài. Nếu đối tác nước ngoài chỉ định giao hạt giống, vật tư, bao bì, thiết bị hoặc hàng hóa cho một doanh nghiệp khác tại Việt Nam, phương án hợp đồng và thủ tục hải quan cần được xác định trước khi hàng được giao nhận, thay vì xử lý chứng từ sau khi giao dịch đã hoàn thành.

Một nội dung khác đáng quan tâm là thủ tục đưa hàng nhập khẩu về bảo quản trong thời gian chờ kết quả kiểm tra chuyên ngành. Theo quy định hải quan hiện hành, hàng thuộc diện kiểm tra chuyên ngành về nguyên tắc được lưu giữ tại cửa khẩu cho đến khi thông quan; trong những trường hợp pháp luật cho phép đưa về địa điểm khác để kiểm tra hoặc bảo quản, địa điểm lưu giữ phải đáp ứng yêu cầu giám sát hải quan và hàng hóa tiếp tục chịu sự giám sát cho đến khi được thông quan.

Đối với địa điểm bảo quản chưa được kiểm tra, trong thời hạn tối đa 30 ngày kể từ ngày xác nhận đưa lô hàng đầu tiên về bảo quản, cơ quan hải quan tổ chức kiểm tra điều kiện giám sát. Người khai hải quan phải lưu giữ hồ sơ chứng minh quyền sử dụng địa điểm và các tài liệu chứng minh điều kiện giám sát để xuất trình khi được yêu cầu.

Với hạt giống hoặc vật tư nông nghiệp thuộc diện kiểm tra chuyên ngành, quy định này cần được hiểu đúng: không phải mọi lô hàng đều mặc nhiên được đưa về kho doanh nghiệp trong thời gian chờ thông quan. Doanh nghiệp chỉ thực hiện khi thuộc trường hợp được pháp luật cho phép và đáp ứng đầy đủ điều kiện tương ứng.

Tháng 8 cũng xuất hiện hướng dẫn đáng lưu ý đối với hàng nhập khẩu có ký hiệu ® trên hàng hóa hoặc bao bì. Cục Hải quan hướng dẫn rằng không mặc nhiên coi hàng hóa là giả mạo nhãn hiệu chỉ vì sản phẩm mang ký hiệu ® trong khi nhãn hiệu đó chưa được bảo hộ tại Việt Nam. Trong trường hợp được hướng dẫn, người khai hải quan có thể phải cam kết bổ sung nhãn phụ với thông tin trung thực về tình trạng bảo hộ nhãn hiệu tại Việt Nam trước khi được xử lý thông quan nếu lô hàng không có vi phạm khác. Quy định nền về chỉ dẫn tình trạng bảo hộ nhãn hiệu đã được sửa đổi tại Thông tư 06/2024/TT-BKHCN.

Đây là chi tiết doanh nghiệp nhập khẩu giống, bao bì hoặc sản phẩm mang thương hiệu của đối tác nước ngoài nên kiểm tra ngay từ khâu duyệt mẫu nhãn và hồ sơ nhập khẩu, thay vì chỉ xử lý khi hàng đã đến cửa khẩu.

Giao dịch với nhà cung cấp nước ngoài: hồ sơ được tinh giản nhưng cần xác định đúng nghĩa vụ thuế

Việc thuê tư vấn, mua dịch vụ công nghệ, phần mềm, quảng cáo, dịch vụ kỹ thuật hoặc các dịch vụ khác từ tổ chức nước ngoài có thể làm phát sinh nghĩa vụ liên quan đến thuế nhà thầu, tùy theo bản chất giao dịch và phương thức thực hiện nghĩa vụ thuế của nhà cung cấp.

Từ ngày 1/7/2026, Điều 30 Thông tư 89/2026/TT-BTC điều chỉnh việc khai thuế GTGT, thuế TNDN đối với nhà thầu nước ngoài, nhà thầu phụ nước ngoài. Theo phần giới thiệu điểm mới của Cục Thuế, đối với trường hợp nộp thuế TNDN theo tỷ lệ phần trăm trên doanh thu tính thuế, khi kết thúc hợp đồng nhà thầu, người nộp thuế chỉ phải khai quyết toán nếu có phát sinh thay đổi số thuế đã khai và nộp. Trước đây, việc khai quyết toán được thực hiện khi kết thúc hợp đồng. Một số tài liệu trong bộ hồ sơ cũng được cắt giảm.

Việc đơn giản hóa hồ sơ không có nghĩa mọi khoản thanh toán ra nước ngoài đều được xử lý giống nhau. Doanh nghiệp vẫn cần xác định ngay từ khi ký hợp đồng: đối tác thuộc loại nhà cung cấp nào, dịch vụ được thực hiện và tiêu dùng ở đâu, bên nào có trách nhiệm kê khai và nộp thuế tại Việt Nam, chứng từ nào cần thu thập và khoản chi có đáp ứng điều kiện về thuế hay không.

Đối với doanh nghiệp nông nghiệp có hoạt động hợp tác nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, mua bản quyền, dịch vụ số, tư vấn kỹ thuật hoặc sử dụng nền tảng của tổ chức nước ngoài, việc rà soát thuế nên được thực hiện trước khi ký hợp đồng và trước thời điểm thanh toán. Đây là biện pháp quản trị rủi ro, giúp tránh tình trạng chỉ phát hiện nghĩa vụ thuế sau khi khoản tiền đã được chuyển cho đối tác.

NGUỒN

  1. Nghị định 291/2026/NĐ-CP của Chính phủ, ngày 21/7/2026, sửa đổi quy định xử phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn. Văn bản chính thức trên Cổng TTĐT Chính phủ
  2. Thông tư 89/2026/TT-BTC của Bộ Tài chính, ngày 30/6/2026, hiệu lực từ 1/7/2026, quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý thuế và Nghị định 252/2026/NĐ-CP. Văn bản chính thức trên Cổng TTĐT Chính phủ
  3. Nghị định 252/2026/NĐ-CP của Chính phủ, ngày 30/6/2026, quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Quản lý thuế. Văn bản chính thức
  4. Nghị quyết 43/2026/QH16 của Quốc hội, ngày 24/8/2026, về giảm thuế TNCN và thuế TNDN. Văn bản chính thức
  5. Luật số 90/2025/QH15, bổ sung Điều 47a Luật Hải quan về xuất khẩu, nhập khẩu tại chỗ; cùng các hướng dẫn của Cục Hải quan trong tháng 8/2026.
  6. Thông tư 121/2025/TT-BTC của Bộ Tài chính, ngày 18/12/2025, hiệu lực từ 1/2/2026, sửa đổi quy định về thủ tục, kiểm tra và giám sát hải quan. Văn bản chính thức
  7. Thông tư 06/2024/TT-BKHCN và hướng dẫn của Cục Hải quan về hàng nhập khẩu sử dụng ký hiệu ®.
  8. Nghị định 292/2026/NĐ-CP và Thông tư 48/2026/TT-BCT, cùng có hiệu lực từ ngày 5/9/2026, là các văn bản hiện hành cần lưu ý khi áp dụng pháp luật về quản lý ngoại thương.

(Hình ảnh AI)

Chia sẻ:

tin tức liên quan

Liên hệ