Từ ngày 20/10/2026, Nghị định 346/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực, sửa đổi, bổ sung nhiều nội dung của Nghị định 58/2018/NĐ-CP về bảo hiểm nông nghiệp. Những thay đổi đáng chú ý gồm nâng mức hỗ trợ phí bảo hiểm, mở rộng nhóm đối tượng có thể được hỗ trợ, tăng quyền chủ động cho địa phương và đơn giản hóa một số thủ tục. Đối với doanh nghiệp giống cây trồng, chính sách mới đáng quan tâm chủ yếu ở hoạt động tổ chức sản xuất hạt giống, vùng sản xuất liên kết và quản trị rủi ro thiên tai, dịch hại.
Mức hỗ trợ phí bảo hiểm được nâng lên, nhưng không áp dụng tự động cho mọi doanh nghiệp
Một trong những thay đổi nổi bật của Nghị định 346/2026/NĐ-CP là điều chỉnh mức hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp.
Theo quy định mới, mức hỗ trợ tối đa đối với cá nhân thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo được nâng từ 90% lên 95%; cá nhân không thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo được nâng từ 20% lên 50%. Đối với tổ chức sản xuất nông nghiệp, mức hỗ trợ tối đa tăng từ 20% lên 30% phí bảo hiểm nông nghiệp.
Điểm cần phân biệt rõ là đây là hỗ trợ một phần phí mua bảo hiểm, không phải Nhà nước bồi thường một tỷ lệ tương ứng khi xảy ra thiệt hại. Khi phát sinh sự kiện bảo hiểm, việc bồi thường vẫn được doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện theo phạm vi, điều kiện và mức trách nhiệm đã thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm. Cơ chế chi trả phần phí được ngân sách hỗ trợ cũng được thực hiện thông qua doanh nghiệp bảo hiểm.
Đồng thời, mức 30% đối với tổ chức là mức tối đa. Khoản 3 Điều 19 mới quy định doanh nghiệp, tổ hợp tác, hợp tác xã hoặc liên hiệp hợp tác xã phải đáp ứng các điều kiện tương ứng, chẳng hạn có hợp đồng liên kết gắn với sản phẩm nông nghiệp thuộc đối tượng được hỗ trợ hoặc đáp ứng các tiêu chí về chất lượng, an toàn, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao theo quy định.
Mở rộng đối tượng và rủi ro được hỗ trợ: thêm dư địa cho vùng sản xuất giống
Nghị định 346/2026/NĐ-CP bổ sung vào Điều 18 nhóm “đối tượng bảo hiểm khác”, bao gồm cây trồng, vật nuôi, nuôi trồng thủy sản và cây lâm nghiệp chính, chủ lực thuộc danh mục do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở trung ương công bố. So với danh mục được quy định cụ thể trước đây, thay đổi này tạo cơ sở để chính sách hỗ trợ có thể bao quát thêm các đối tượng sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa mọi loại cây trồng đều mặc nhiên được hưởng hỗ trợ từ ngày Nghị định có hiệu lực. Đối với các cây trồng ngoài nhóm đã được quy định trước đây, doanh nghiệp vẫn cần xác định cây trồng đó có thuộc danh mục có thẩm quyền công bố và có nằm trong phạm vi chính sách do địa phương quyết định hay không.
Về rủi ro, Điều 20 mới tiếp tục bao gồm nhiều loại thiên tai có ảnh hưởng trực tiếp tới sản xuất nông nghiệp như bão, mưa lớn, lũ, ngập lụt, xâm nhập mặn, nắng nóng, hạn hán, rét hại, mưa đá, sương muối… đồng thời mở rộng bằng quy định về “rủi ro thiên tai khác theo pháp luật về phòng, chống thiên tai”. Dịch hại thực vật cũng tiếp tục thuộc nhóm rủi ro được bảo hiểm được hỗ trợ.
Địa phương được chủ động hơn trong chính sách hỗ trợ
Một thay đổi có ý nghĩa thực tế lớn là việc tăng thẩm quyền của địa phương.
Theo Điều 21 và Điều 22 được sửa đổi, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh căn cứ điều kiện thực tế và khả năng cân đối ngân sách để quyết định địa bàn, đối tượng bảo hiểm, loại rủi ro, mức hỗ trợ và thời gian thực hiện hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp. Địa bàn áp dụng có thể là toàn tỉnh hoặc chỉ một số xã.
Điều này đồng nghĩa chính sách trên thực tế có thể khác nhau giữa các địa phương. Cùng một loại cây trồng hoặc một loại rủi ro, tỉnh này có thể triển khai hỗ trợ nhưng tỉnh khác chưa triển khai hoặc áp dụng mức hỗ trợ khác. Đây là nội dung đặc biệt cần lưu ý đối với doanh nghiệp tổ chức sản xuất hạt giống tại nhiều tỉnh, thành phố.
Thủ tục được rút gọn, doanh nghiệp cần chú ý thời hạn nộp hồ sơ
Nghị định mới điều chỉnh đáng kể thủ tục phê duyệt đối tượng được hỗ trợ phí bảo hiểm.
Quy trình trước đây có sự tham gia của cấp huyện; theo Điều 24 mới, thủ tục lần đầu được tổ chức theo hướng: hồ sơ được gửi tới UBND cấp xã; UBND cấp xã có 10 ngày làm việc để rà soát, tổng hợp và thẩm định; Sở Nông nghiệp và Môi trường có 5 ngày làm việc để tổng hợp, báo cáo; sau đó UBND cấp tỉnh có 5 ngày làm việc để ban hành quyết định phê duyệt danh sách đối tượng được hỗ trợ. Hồ sơ có thể được gửi trực tiếp, qua dịch vụ bưu chính hoặc trực tuyến khi điều kiện cho phép.
Trường hợp một tổ chức sản xuất nông nghiệp hoạt động tại nhiều xã khác nhau, hồ sơ được gửi tới UBND cấp xã nơi doanh nghiệp hoặc hợp tác xã đăng ký thành lập. Sau đợt phê duyệt lần đầu, việc xem xét đối tượng mới và điều chỉnh danh sách được thực hiện định kỳ hàng quý.
Bảo hiểm theo chỉ số được cụ thể hóa hơn
Nghị định 346/2026/NĐ-CP cũng hoàn thiện quy định về bảo hiểm nông nghiệp theo chỉ số, trong đó có chỉ số năng suất, chỉ số thời tiết và chỉ số viễn thám.
Quy định mới làm rõ hơn nguồn cung cấp dữ liệu và yêu cầu khả năng tra cứu đối với dữ liệu dùng để giải quyết bồi thường. Trường hợp dữ liệu không được công khai bởi đơn vị cung cấp, doanh nghiệp bảo hiểm công khai dữ liệu phải bảo đảm người mua bảo hiểm và cơ quan có thẩm quyền có khả năng kiểm tra, tiếp cận dữ liệu tối thiểu 5 năm. Với bảo hiểm theo chỉ số, khi thuộc phạm vi bảo hiểm và có yêu cầu chi trả, thời hạn chi trả là 15 ngày làm việc kể từ ngày công bố chỉ số.
Đối với vùng sản xuất giống tập trung, bảo hiểm theo chỉ số có thể là một công cụ quản trị rủi ro đáng quan tâm, nhất là với những khu vực thường xuyên chịu ảnh hưởng của hạn hán, ngập lụt, rét hại hoặc các biến động thời tiết khác. Tuy nhiên, việc lựa chọn sản phẩm cần dựa trên điều khoản bảo hiểm, chất lượng nguồn dữ liệu và đặc điểm rủi ro thực tế của từng vùng sản xuất, thay vì xem đây là một nghĩa vụ pháp lý của doanh nghiệp.
Nguồn và căn cứ: Nghị định số 346/2026/NĐ-CP của Chính phủ, ban hành ngày 05/09/2026, sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 58/2018/NĐ-CP về bảo hiểm nông nghiệp; có hiệu lực từ 20/10/2026.
Ảnh nguồn Báo điện tử Chính phủ.
Xem Nghị định 346/2026/NĐ-CP trên Hệ thống văn bản Chính phủ.